Đang tải dữ liệu...
 
Trang chủTin tức & Sự kiệnREDD+ ở Việt NamDự án REDD+Thư việnTuyển dụngLiên hệ

Giới thiệu chung

Cập nhật ngày:  11/07/2010
Sáng kiến REDD+ tại Việt Nam
Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 13 (COP13) của UNFCCC đã khẳng định Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trước đó, báo cáo của Ngân hàng Thế giới cũng cảnh báo những nguy cơ thiệt hại nặng nề do mực nước biển dâng cao đối với Việt Nam. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam rất tích cực tham gia vào các nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhằm xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường nói chung và ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng. Việt Nam đã tham gia UNFCCC từ tháng 11/1994 và đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào tháng 9/2002. Trong thời gian vừa qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngày 02/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ban hành Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTP-RCC). Việc thực hiện NTP-RCC trong giai đoạn 2009-2015 ước tính sẽ cần khoảng 1.965 tỷ đồng (tương đương với 112 triệu USD). Một nửa số chi phí đó sẽ được huy động từ nguồn vốn nước ngoài. Ngày 12/6/2009, Chỉnh phủ đã có Nghị quyết số 27/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, trong đó Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi trách nhiệm của mình tích cực, chủ động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng được nâng cao.


Thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện APF do Bộ trưởng làm Trưởng ban và đã xây dựng Khung Chương trình Hành động (APF) thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2008 – 2020, trong đó giảm phát thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng (REDD) là một trong những nội dung quan trọng. Ngày 29/5/2009 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức Hội thảo công bố APF.

Việt Nam cũng nêu rõ vị trí của mình đối với REDD+ qua việc đệ trình Ban thư ký Khung Công ước Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu vào tháng 2 năm 2008. Việt Nam là một trong 9 quốc gia thực hiện chương trình UN-REDD và cũng là một trong 9 quốc gia được phê duyệt Đề xuất xây dựng Dự án (R-PIN) thuộc Quỹ hợp tác các bon lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng thế giới.



Biến động diện tích và chất lượng rừng ở Việt Nam

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến thời điểm tháng 12 năm 2008 diện tích rừng cả nước là 13,1 triệu ha (chiếm 38,7% tổng diện tích tự nhiên), bao gồm: 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 2,8 triệu ha rừng trồng. Nếu phân chia theo 3 loại rừng thì số liệu rừng năm 2008 như sau: a) rừng đặc dụng: 2,1 triệu ha (tương đương với 15,7% tổng diện tích rừng), rừng phòng hộ: 4,7 triệu ha (36,1% tổng diện tích rừng), rừng sản xuất: 6,2 triệu ha (47,3% tổng diện tích rừng) và rừng ngoài đất quy hoạch cho lâm nghiệp là 118.568 ha (0,9% tổng diện tích rừng. Mặc dù diện tích rừng tăng từ 9,2 triệu ha (năm 1992) lên 13,1 triệu ha (năm 2008) nhưng hiện tượng mất rừng vẫn tiếp diễn phức tạp tại nhiều nơi, như vùng Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ. Hiện tượng mất rừng và phá vỡ sự gắn kết các mảng rừng làm cho rừng trở nên manh mún khá phổ biến tại các khu rừng tự nhiên.

Theo số liệu Báo cáo Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn quốc (NFIMAP) Chu kỳ III, hơn 2/3 diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam được coi là rừng nghèo; Rừng giàu và rừng trung bình chỉ chiếm 4,6% tổng diện tích rừng và phần lớn phân bố tại các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa. Nhiều khu rừng ngập mặn và rừng Tràm tại vùng đồng bằng ven biển có vai trò quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học dường như đã biến mất. Cơ hội tái sinh tự nhiên ngày càng khó khăn do sự phân bố của những khu rừng tự nhiên có trữ lượng lớn thường độc lập và manh mún. Báo cáo cũng cho thấy chất lượng và đa dạng sinh học rừng tiếp tục bị suy giảm. Trong giai đoạn 1999-2005, diện tích rừng tự nhiên giàu giảm 10,2% và rừng trung bình giảm 13,4%. Nhiều diện tích rừng tự nhiên rộng lớn tại vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Bắc đã bị mất trong giai đoạn từ 1991-2001.


Nguyên nhân chính gây ra mất rừng và suy thoái rừng

Kết quả của các nghiên cứu khoa học và Chương trình Điều tra, theo dõi và đánh giá diễn biến tài nguyên rừng toàn quốc từ năm 1991 đến nay đã chỉ ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến động diện tích và chất lượng rừng ở Việt Nam:

(i) Do chuyển đổi rừng sang đất canh tác nông nghiệp. Đây được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng.

(ii) Do tập quán canh tác lạc hậu, du canh, du cư và phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên rừng để sinh tồn. Bên cạnh đó, việc di dân từ vùng đồng bằng lên các vùng cao và từ miền núi phía bắc vào Tây Nguyên đã góp phần vào tỷ lệ tăng dân số và tạo áp lực lên những diện tích rừng hiện có.

(iii) Do chưa có biện pháp quản lý và khai thác rừng hợp lý, nạn khai thác gỗ lậu vẫn xảy ra ở nhiều địa phương. Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, năng lực thực thi pháp luật còn hạn chế, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan thực thi pháp luật. Quá trình giao đất, giao rừng cùng với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm, quyền sử dụng rừng chưa rõ ràng.

(iv) Do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội như: xây dựng hệ thống thủy lợi, thủy điện, hệ thống đường giao thông, bố trí tái định cư, xây dựng các khu công nghiệp, khai thác khoáng sản, vv...

(v) Do nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản.

Chính phủ Việt Nam nhận thức rất rõ các nguyên nhân gây ra mất rừng và suy thoái rừng và đã có rất nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề này và đã đạt được những kết quả được quốc tế đánh giá cao.

Tuy nhiên, sự đầu tư của Nhà nước không phải là vô hạn. Do đó cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua việc thiết lập một cơ chế tài chính mới và bền vững dựa vào chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh đó, việc quản lý bảo vệ rừng bền vững cũng góp phần đem lại những lợi ích cho khu vực và toàn cầu (ví dụ: hạn chế biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, vv...). Do vậy, cộng đồng quốc tế cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay giá trị của rừng vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ và người dân vẫn chưa yên tâm sống bằng nghề rừng cũng như tích cực tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững. Hệ quả tất yếu là áp lực lên tài nguyên rừng hiện có ngày càng tăng, hiện tượng mất rừng và suy thoái rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi. Nếu giá trị của rừng được đánh giá và được lượng hóa một cách đầy đủ (cả giá trị về gỗ, lâm sản ngoài gỗ và giá trị bảo vệ môi trường, vv...) thì đó sẽ là cơ sở quan trọng để so sánh giữa lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng với lợi nhuận thu được từ các hoạt động chuyển đổi rừng sang các mục đích sử dụng khác. Đó cũng là căn cứ để xây dựng một chính sách khuyến khích đủ mạnh để ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng. Tuy nhiên, việc định giá rừng (đặc biệt là lượng hóa giá trị của rừng đối với việc hấp thụ các-bon và giảm phát thải khí nhà kính) và tính toán chi phí cơ hội của các hoạt động sử dụng tài nguyên khác nhau ở Việt Nam cũng như việc tìm kiếm thị trường còn gặp nhiều khó khăn.


Vai trò của cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình thực thi REDD+

Việt Nam hiện có 53 dân tộc thiểu số bên cạnh người Kinh, mỗi dân tộc thường có một ngôn ngữ, cách sống và văn hóa riêng. Theo số liệu thống kê, hiện nay có khoảng trên 25 triệu người sống trong rừng và những khu vực gần rừng và phần lớn trong số họ là người dân tộc thiểu số. Do vậy có thể nói cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sẽ là một trong những chủ thể quan trọng trong quá trình thực thi REDD. Cộng đồng dân cư trong rừng và gần rừng thường có hiểu biết sâu sắc về tình trạng và biến động của hệ sinh thái rừng nơi họ sống. Vì vậy, họ có thể đóng góp vào quá trình quản lý rừng, theo dõi và giám sát phát thải các bon do mất rừng và suy thoái rừng. Có rất nhiều các phương pháp theo dõi, giám sát tài nguyên thiên nhiên, bao gồm giảm phát thải khí CO2 sẽ áp dụng phương pháp giám sát có sự tham gia và dựa vào người dân. Phương pháp tiếp cận này sẽ thu hút người dân - những người không có chuyên môn, trình độ khoa học - tham gia giám sát tài nguyên, áp lực và nguồn lực sử dụng. Theo Nordeco (2008), phương pháp tiếp cận giám sát có sự tham gia dường như là một trong những công cụ theo dõi, giám sát đất đai và giám sát tài nguyên thiên nhiên hữu hiệu nhất. Tại Việt Nam, phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân có thể sử dụng phục vụ điều tra thực địa, bổ sung và kiểm chứng trữ lượng các-bon được chiết xuất từ số liệu ảnh vệ tinh hoặc các phương pháp thu thập thông tin khác do các cơ quan cấp trung ương cung cấp. Phương pháp này có thể góp phần làm giảm chi phí, nâng cao được độ chính xác của kết quả điều tra, theo dõi, đánh giá trữ lượng các-bon của rừng. Đồng thời, việc áp dụng phương pháp này cũng tăng cường tính làm chủ của người dân địa phương với rừng và đất lâm nghiệp được giao, khuyến khích họ tham gia thực hiện vì quyền lợi của chính bản thân và góp phần tăng tính minh bạch trong quản lý rừng.


Chương trình REDD+ và Sẵn sàng thực thi REDD+


Biến đổi khí hậu là vấn đề được quan tâm tại Việt Nam. Thể hiện là kế hoạch hành động và Tổ điều phối về biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tiến hành quá trình xây dựng chiến lược REDD+.

Những cơ quan liên quan đến lâm nghiệp và REDD+ gồm:
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE)
  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI)
  • Bộ Tài chính (MoF)
  • Ủy ban Dân tộc và miền núi (CEMA)
Đối tác Hỗ trợ ngành lâm nghiệp được thành lập năm 2001 với mục đích thiết lập mối quan hệ hợp tác hiệu quả giữa các bên liên quan trong và ngoài nước và tập trung vào triển khai Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (2006 -2020).

Điều phối REDD+ tại Việt Nam Do REDD+ có phạm vi rộng và đã xuất hiện sự chồng chéo giữa các cơ quan và các tổ chức phi chính phủ, do vậy cần điều phối các hoạt động trong quá trình xây dựng Sẵn sàng thực thi REDD+. Với tình hình như vậy và với sự cần thiết điều phối hoạt động, Bộ NN&PTNT đã thiết lập Mạng lưới REDD+ quốc gia Tổ công tác REDD+ trong đó Tổ công tác được phân ra thành các Tổ công tác chuyên đề (i) Quản trị REDD+; (ii) Đo lường, Báo cáo và Xác nhận (MRV); (iii) Tài chính và phân phối lợi ích REDD+ (iv) Triển khai REDD+ tại địa phương. Đây là đơn vị bổ trợ cho Ban điều hành về Thích ứng và giảm thiểu Biến đổi khí hậu và sẽ bao gồm các cơ quan trong nước và quốc tế. Nhiệm vụ của Tổ công tác REDD+ là hướng dẫn và điều phối tất cả các hoạt động và xây dựng năng lực.

Số lượt đọc:  11     Về trang trước    Bản in    Gửi email 
Tin tức

FCPF-2: Họp Ban Chỉ đạo dự án

12/01/2018 11:23' AM
Dịch vụ tư vấn: Chuyên gia đánh giá nhu cầu REDD+, kế hoạch quản lý và hợp lý hóa của các BQL rừng đặc dụng, phòng hộ và công ty LN NN vùng Chương trình giảm phát thải (ER-P)

FCPF-2: Thư mời bày tỏ quan tâm

29/11/2017 03:39' PM

Quyết định thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020

24/11/2017 02:33' PM